Lãnh thổ Canada trải dài từ Đại Tây Dương ở phía
đông sang Thái Bình Dương ở phía tây, và giáp Bắc Băng Dương ở phía bắc. Về
phía nam, Canada giáp với Hoa Kỳ bằng một biên giới không bảo vệ dài nhất thế
giới. Phía tây bắc của Canada giáp với tiểu bang Alaska của Hoa Kỳ. Đông bắc của
Canada có đảo Greenland (thuộc Đan Mạch). Ở bờ biển phía đông có quần đảo Saint-Pierre
và Miquelon (thuộc Pháp). Biên giới chung của Canada với Hoa Kỳ về phía nam và
phía tây bắc là đường biên giới dài nhất thế giới.
Nguồn gốc tên gọi
Canada
Chữ Canada có nguồn gốc từ chữ kanata
trong ngôn ngữ của thổ dân Huron-Iroquois, có nghĩa là "ngôi làng",
ám chỉ đến Stadacona, một địa điểm hiện tại nằm trong phạm vi Thành phố Québec.
Ngày xưa, Canada thường được gọi là Dominion of Canada (Xứ tự trị
Canada), nhưng hiện nay tất cả các văn kiện chính thức đều chỉ dùng tên Canada.
Alberta, CanadaĐịa lý và khí hậu
Canada chiếm phần lớn phía bắc của Bắc Mỹ, chia sẻ
đường biên giới với Hoa Kỳ về phía nam và tiểu bang Alaska của Mỹ ở phía tây bắc,
trải dài từ Đại Tây Dương ở phía đông sang Thái Bình Dương về phía tây; đến
phía bắc là Bắc Băng Dương. Nếu tính tổng diện tích (bao gồm cả diện tích mặt
nước), Canada là nước lớn thứ hai thế giới, sau Nga. Theo diện tích đất (diện
tích đất là tổng diện tích trừ đi diện tích hồ và sông) thì Canada đứng thứ thứ
tư.
Phần lớn khu vực Bắc cực của Canada được bao phủ bởi
băng và lớp băng vĩnh cửu. Canada cũng có bờ biển dài nhất thế giới: 202.080 km
(125.570 dặm).

Jasper, Công viên quốc gia Canada

Thác Niagara về đêm tại Ontario
Với mật độ dân số,
3,3 người trên mỗi km vuông (8.5/sq mi), Canada là một trong những quốc gia có
mật độ dân số thấp nhất trên thế giới. Nơi có mật độ dân cư cao nhất là Thành
phố Québec – Windsor Corridor, (nằm ở phía Nam Quebec và Nam Ontario) dọc Great
Lakes và sông Saint Lawrence ở phía đông nam.
Canada có một đường bờ biển rộng lớn ở phía bắc,
đông và tây, và kể từ thời kỳ băng hà cuối cùng nó nơi đây đã bao gồm tám khu vực
rừng khác biệt, bao gồm rừng taiga rộng lớn ở Shield Canada. Các phong phú và sự
đa dạng về địa lý, sinh thái , thảm thực vật và địa hình của Canada đã tạo cho
quốc gia này một sự đa dạng về khí hậu. Với diện tích rộng lớn, Canada có nhiều
hồ hơn bất kỳ quốc gia nào khác, số hồ này chứa một lượng nước ngọt lớn của thế
giới. Ngoài ra còn có các sông băng nước ngọt ở Rockies Canada và dãy núi Coast.


rừng Taiga mùa đông
Nhiệt độ trung bình mùa đông và mùa hè trên khắp
Canada khác nhau tùy theo vị trí. Mùa đông có thể rất khắc nghiệt ở nhiều vùng
của đất nước, đặc biệt là tại các tỉnh nội địa và các tỉnh bình nguyên, là những
nơi có khí hậu lục địa, nhiệt độ trung bình hàng ngày là gần -15 ° C (5 ° F),
nhưng có thể giảm xuống dưới -40 ° C (- 40 ° F) với những cơn gió lạnh khắc
nghiệt. Canada cũng là nơi có hoạt động địa chất phức tạp, với nhiều trận động
đất và các ngọn núi lửa có khả năng hoạt động.
Nhân khẩu học
Dân số Canada năm 2005 được ước lượng vào khoảng
32 triệu người. Dù là một nước có diện tích lớn thứ hai thế giới – khoảng 10
triệu km² – nhưng mật độ dân số của Canada lại cực thấp – khoảng 4 người/km².
Canada lớn hơn Hoa Kỳ nhưng dân số chỉ bằng 1/9 của Hoa Kỳ.
Trước thế kỷ 19, toàn bộ dân Canada đều là người
thổ dân, người Anh và người Pháp. Mãi cho đến Đệ Nhị Thế Chiến, dân Scotland, Ireland
và Đông Âu bắt đầu nhập cư vào Canada. Từ năm 1945, diện mạo văn hoá sắc tộc của
Canada phát triển phong phú hơn do số lượng di dân từ Nam Âu, Nam Mỹ, quần đảo Caribbean,
Trung Đông và Châu Á-Thái Bình Dương càng ngày càng tăng. Ngày nay dân Canada hầu
như đến từ khắp nơi trên thế giới.
Ngôn ngữ
Hai ngôn ngữ chính thức của Liên bang Canada là tiếng
Anh và tiếng Pháp. Gần 60% dân Canada có tiếng mẹ đẻ là tiếng Anh, 22% là tiếng
Pháp. Đại đa số người nói tiếng Pháp sống tại tỉnh bang Québec, sau đó là các tỉnh
bang Ontario, New Brunswick và Manitoba. Một số ngôn ngữ của các thổ dân cũng
được xem là ngôn ngữ chính thức tại các lãnh thổ tự trị, đặc biệt là tiếng
Inuktitut. Rất nhiều thứ tiếng của các thổ dân đã bị mai một hay đang đi đến
tình trạng đó. Những tiếng khác được nhiều người nói là: tiếng Ý, tiếng Đức, tiếng
Quan Thoại, tiếng Quảng Đông, tiếng Tây Ban Nha.
Québec là tỉnh bang độc nhất ban hành một đạo luật
bảo vệ tiếng Pháp, mục đích để bảo vệ sắc thái văn hóa đặc biệt nhất Bắc Mỹ của
họ. Tuy nhiên quyền lợi về ngôn ngữ và giáo dục của các cộng đồng nói tiếng Anh
và các tiếng thổ dân cũng được bảo vệ. Ngoài ra, dân chúng có quyền dùng hoặc
tiếng Anh hoặc tiếng Pháp trong khi giao tiếp với chính phủ.
Kinh tế
Canada là một trong những quốc gia thịnh vượng nhất
thế giới, với thu nhập bình quân đầu người cao, quốc gia này là thành viên của Tổ
chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OEDC) và G8. Đây là một trong mười quốc gia
thương mại hàng đầu thế giới. Những bạn hàng nhập khẩu lớn nhất hàng hóa của
Canada là Hoa Kỳ, Vương quốc Anh và Nhật Bản. Năm 2008, giá trị nhập khẩu hàng
hóa của Canada là 442.9 tỉ USD, trong đó các nước mà Canada nhập khẩu lớn nhất
là Hoa Kỳ, Nhật Bản và Vương quốc Anh. Thâm hụt thương mại của quốc gia này là
4.8 tỉ đô Canada năm 2009, so với thặng dư thương mại 46.9 tỉ đô Canada năm
2008.

Thành phố Québéc
Trong thế kỷ trước, sự tăng trưởng trong lĩnh vực
khai thác, sản xuất, và các ngành dịch vụ đã chuyển đổi đất nước từ một nền
kinh tế đa phần nông thôn sang một nền kinh tế công nghiệp và đô thị. Giống như
những quốc gia phát triển trên thế giới, nền kinh tế Canada bị chi phối bởi các
ngành công nghiệp dịch vụ, nghành chiếm khoảng ba phần tư dân số Canada. Trong
số các quốc gia phát triển, Canada là quốc gia hàng đầu trong nghành công nghiệp
khai thác gỗ và dầu khí.
Canada là một trong số ít các nước phát triển xuất
khẩu ròng năng lượng. Biển Đại Tây Dương của Canada có trữ lượng khí tự nhiên lớn,
khu vực Alberta có nguồn tài nguyên dầu mỏ và khí đốt dồi dào. Những bãi cát dầu
Athabasca có dự trự dầu mỏ lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Ả Rập Xê Út.
Canada là một trong những quốc gia cung cấp nông sản
lớn nhất thế giới, vùng đồng bằng của Canada là một trong những khu vực sản xuất
quan trọng nhất trên thế giới các sản phẩm lúa mì, hạt cải và các loại ngũ cốc.
Canada là nước sản xuất kẽm và uranium lớn nhất thế giới, và là nguồn cung toàn
cầu các loại tài nguyên như vàng, niken, nhôm, và chì.
Chính trị
Canada là một liên bang bao gồm 10 tỉnh bang (province)
và 3 lãnh thổ (territory). Liên bang Canada là một liên bang dựa lên nền
quân chủ lập hiến và chế độ dân chủ nghị viện.

Thượng viện Canada
Nguyên thủ quốc gia của Canada là Nữ hoàng
Elizabeth Đệ Nhị, ngự trị tại Anh. Với đề nghị của chính phủ Canada, Nữ hoàng cử
một người dân Canada làm đại diện cho mình gọi là Toàn Quyền, hay tôn trọng gọi
Đại diện Nữ hoàng. Chính phủ của Canada được lập bởi Quốc hội do dân bầu lên.
Quốc hội bao gồm hai viện: Thượng viện dùng để đại
diện các vùng, các tỉnh bang và các sắc thái văn hóa khác nhau trong xã hội, Hạ
viện dùng để đại diện toàn thể dân chúng. Nhiệm vụ của Quốc hội là soạn thảo và
ban hành các sắc luật để chính phủ thi hành.
Đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng. Thủ tướng điều
khiển Chính phủ và là chủ tọa của một Nội các bao gồm nhiều bộ trưởng và những
người cố vấn. Canada hiện có 4 chính đảng lớn nhất: Đảng bảo thủ, Đảng tự do, Đảng
tự do dân chủ và Khối Québéc.
Văn hoá
Canada là một nước đa văn hóa. Nhất là ở các thành
phố lớn như Toronto, Montréal, Vancouver, sự đa dạng của các dân tộc trên thế
giới càng rõ rệt hơn. Thêm vào đó, nghệ thuật đương đại rất phát triển. Có hàng
ngàn công trình kiến trúc, phòng tranh, bảo tàng và học viện nghệ thuật trên khắp
đất nước. Canada còn là một trong các nước có nền điện ảnh và âm nhạc lớn nhất
thế giới.
Canada là thành viên của cả Khối Thịnh vượng chung
Anh lẫn khối Cộng đồng Pháp ngữ, và nhiều tổ chức quốc tế khác.
Canada hai lần tổ chức Đại hội Triển lãm Quốc tế:
tại Montréal (Expos 67) và tại Vancouver (Expos 86); ba lần đăng cai Thế Vận Hội:
tại Montréal (Thế vận hội mùa hè 1976),
tại Calgary (Thế vận hội Mùa đông 1988) và tại Vancouver (Thế vận hội Mùa đông
2010).
Các tỉnh bang và
lãnh thổ tự trị
Canada có 10 tỉnh bang và 3 lãnh thổ tự trị phía Bắc.
Các tỉnh bang của Canada mang tên province
để giữ truyền thống của thời họ thực sự là các tỉnh (hay province) của Đế
quốc Anh. Trên thực tế, mỗi đơn vị hành chính này là một bang tự trị (tương đối,
nhưng không hoàn toàn, giống một tiểu bang - state - của Hoa Kỳ hay một
bang - Bundesland - của Đức) với một chính phủ bao gồm các hệ thống hành
pháp, tư pháp, luật pháp, thuế, giáo dục, y tế, xã hội... riêng của họ. Để
tránh sự ngộ nhận với các tỉnh của nhiều quốc gia khác, cộng đồng người Việt tại
Canada đã gọi đơn vị hành chính này là tỉnh bang. Từ tỉnh bang đã
được dùng rất phổ biến trên các báo chí tiếng Việt phát hành tại Canada, tuy
nhiên nhiều người vẫn dùng từ tỉnh, nhất là trong lối dùng hàng ngày.
Cơ chế hành chính của mỗi tỉnh bang tương đối giống
trường hợp của liên bang. Với lời đề nghị của Thủ tướng Canada, Nữ hoàng cử một
người dân trong tỉnh bang làm đại diện cho mình (Lieutenant governor). Về
mặt lập pháp, thay vì có hai viện như liên bang, quốc hội của mỗi tỉnh bang chỉ
có một viện với tên khác nhau tuỳ theo từng tỉnh bang. Về mặt hành pháp, đảng
chiếm đa số ghế trong quốc hội sẽ thành lập chính phủ, đảng chiếm nhiều ghế thứ
nhì sẽ thành lập đối lập chính thức.